Sao Thiên tướng - Lục Bân Triệu

      Sao Thiên tướng trong thuyết ngũ hành thuộc dương thủy, ở trên trời thuộc chòm sao Nam Đẩu, hóa làm ấn tinh (sao ấn). Bản thân ấn có thể thiện mà cũng có thể ác. Thiện hay Ác là do người cầm ấn đi theo về bên nào. Ví như cái ấn trên pháp đường, có thể khiến cho người ta thăng quan phát tài, cốt nhục đoàn tụ, mà cũng có thể khiến cho người ta phải chịu hình phạt, gia phá nhà tan. Thiện ác khác nhau là do người cầm ấn dùng nó mà phân biệt.

      Nói về sao Thiên tướng, ý nghĩa của sao Thiên tướng đúng là ý tứ "tương trợ", là địa vị tể tướng hoặc quân sư. Nghĩa vụ duy nhất của một vị tể tướng hoặc quân sư, là trung thành với chủ nhân, vì chủ nhân của mình mà tham mưu, lấy sự lợi hại của chủ nhân để tính toán mưu sự. Cho nên, chủ nhân thiện thì giúp cho chủ nhân làm thiện, chủ nhân ác thì giúp cho chủ nhân làm ác.


      Do đó, tác phong của sao Thiên tướng là gặp tốt đẹp thì càng thêm tốt đẹp, gặp hung ác thì càng hung ác. Nó ở trong mệnh bàn 12 cung, chúng ta sẽ vô phương chỉ định nó, rốt cuộc, là sao cát tường hay là sao ác sát hay là sao hung. Nó là thiện hay là ác, đó là tùy theo các tinh diệu khác mà nó gặp, hoặc vây chiếu, và hoàn cảnh toàn thể mà thay đổi.


      Cho nên, sao Thiên tướng đến Mệnh cung hay Thân cung, tả hữu có sao Hóa Lộc và sao Thiên lương giáp cung phù trì, sẽ là cách "Tài ấm giáp ấn", chủ về phú quý vinh hoa, hưởng thụ vui vẻ. Sao Thiên tướng hãm ở mệnh cung hoặc Thân cung, có sao Hóa Kị và sao Kình dương giáp cung, gọi là cách "Hình kị giáp ấn", chủ về người gặp phải tai họa lao ngục, kèm có sự tình "hình khắc thương tổn" phát sinh. 


      1. Thiên tướng ở cung Mệnh viên

      Sao Thiên tướng đến cung Mệnh, chủ về người sắc mặt xanh trắng hoặc hơi kèm sắc vàng. Khuôn mặt hình vuông hoặc kèm hơi tròn. Dáng vóc người trung bình, cũng có người béo mập.

      Tính tình khoan hậu, thái độ rộng rãi, động tác ổn trọng, có lòng chính nghĩa, giữa đường thấy chuyện bất bình có thể rút đao tương trợ. Sùng thượng tín ngưỡng tôn giáo, thích tu hành, tình cảm dễ xung động. Đối với bất cứ ai gặp cảnh ngộ khó khăn, hay không lành, đều sinh lòng cảm thông.Thiên tướng rất ưa các cát tinh Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Tam thai, Bát tọa, Thiên quý, Ân quang, Thiên đức, Giải thần, Thiên vu hội chiếu. Nếu lại gặp tam cát hóa Quyền Lộc Khoa, và Lộc tồn, Thiên mã thì chủ về có địa vị cực phẩm, làm tướng lĩnh, cột trụ quốc gia, lãnh đạo trong xã hội, vừa phú vừa quý. Nếu sao Thiên tướng đồng độ với sao Tử vi và Lộc tồn, thì chủ về người có thiên kiến, hoặc có chủ kiến cực mạnh, thích tranh quyền, đồng thời cũng dễ bị tiểu nhân khuynh đảo. Có các sao Vũ khúc, Liêm trinh và Tham lang, Thiên tài, Phượng các hội chiếu, chủ về người thông minh hiếu học, nhiều tài nghệ. Nếu lại có Kình dương, Đà la hội chiếu, ở hãm địa, thì chủ về người lấy kỹ thuật, hay nghệ thuật làm sinh kế. Có tam cát hóa Khoa Quyền Lộc và Lộc tồn thì lấy kỹ năng chuyên môn hay nghệ thuật để khởi nghiệp. Nếu có các sát tinh ác diệu Hỏa tinh, Linh tinh, Thiên hình, Thiên nguyệt, Âm sát, Địa không, Địa kiếp, Đại hao hội chiếu, chủ về hình khắc hoặc bản thân tàn tật. Nếu có các tinh diệu Vũ khúc, Phá quân, Văn xương, Văn khúc, Tả phụ, Hữu bật, Đà la, Thiên mã, Hóa Lộc vậy chiếu, chủ về người lúc thành lúc bại, chợt lên chợt xuống. Thành công thì tăng thêm nhà cửa ruộng đất, hiếm có trên đời. Thất bại thì tai họa lao ngục, tiểu nhân bao quanh, hình thương khắc hại. Đây là cách "trong cát có hung", "trong hung có cát", chợt tốt chợt xấu thay đổi bất thường.


      Người nữ có sao Thiên tướng đến cung Mệnh, chủ về người thông minh, thận trọng, có chí khí trượng phu. Có  tam cát hóa Khoa, Quyền, Lộc, và Lộc tồn, Tả phụ, Hữu bật, Thiên mã hội chiếu, là mệnh phu nhân, vượng phu ích tử, phú quý song toàn. Nếu có Văn xương, Văn khúc, Hóa Kị, Kình dương hội chiếu, chủ về cô độc, nên xuất gia tu hành, hoặc làm kế thất, vợ lẻ, ở chung mà không cử hành nghi thức hôn lễ, nếu không sẽ hình khắc phân ly.


      Sao Thiên tướng đến lưu niên, đại hạn, tam phương tứ chính có các Cát tinh Tả phụ, Hữu bật, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa, và Lộc tồn, Thiên phủ hội chiếu, chủ về tài lộc dồi dào, quyền cao chức trọng, kết hôn sinh con trai, danh lợi đều có. Nếu có sao Phá quân, Vũ khúc, hoặc Thất sát, Kình dương, Đà la hội chiếu, chủ về "lời qua tiếng lại cãi vã", kiện tụng, tiểu nhân ám hại, khuynh gia phá sản, nếu gặp thêm các Sát tinh Thiên hình, Hỏa tinh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp, Đại hao, Thiên hư hội chiếu, chủ về hình khắc trùng trùng, hơn nữa bản thân có lúc còn cảm nhận thấy trống rỗng, có ý đồ tự sát. Không có tinh diệu Cát tường hóa giải sẽ chủ về tai họa tử vong.


      2. Thiên tướng ở cung Huynh đệ

      Sao Thiên tướng đến cung Huynh đệ, thùa vượng nhập miếu, có Tả phụ, Hữu bật hội chiếu, chủ về có năm anh chị em trở lên. Có sao Tử vi đồng độ chủ về có ba anh chị em trở lên, anh em ưa tỏ ra cao cường. Có Vũ khúc hoặc Liêm trinh đồng độ, chủ về có hai anh chị em, chủ về ý kiến không hợp nhau. Có Vũ khúc, Phá quân vây chiếu, thêm Tả phụ, Hữu bật, thì anh em tuy nhiều, song có hình khắc thương tổn, hoặc anh chị em khác mẹ, và có em nhỏ cách xa nhau nhiều tuổi. Có Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, Thiên hình hội chiếu, chủ về hình khắc, lục thân không nhờ cậy được. Có Địa không, Địa kiếp, Đại hao hội chiếu, cũng chủ về cô độc. Có tam cát hóa Khoa, Quyền, Lộc, và Lộc tồn đồng độ, chủ về anh em phát đạt, có địa vị, có tiền tài. 

      3. Thiên tướng ở cung Thê (Phu) 

      Sao Thiên tướng đến cung Thê, chủ về được vợ thông minh hiền thục, giỏi chăm lo gia đình, dụng mạo mĩ lệ. Nên lấy vợ lớn tuổi, hoặc thân càng thêm thân. Có Tử vi cùng đến, chủ về vợ có chí cao, có kế hoạch, nên chậm lấy vợ. Có Vũ khúc đồng độ, chủ về có tai nạn thương tổn, hoặc khẩu qua lời lại, ý kiến bất hợp. Có Vũ khúc và Phá quân vây chiếu, chủ về hình khắc phân ly, hoặc trước khi kết hôn đã từng giải trừ hôn ước với người khác, hoặc gặp trở ngại rất nhiều trước khi kết hôn, dây dưa kéo dài mới khỏi hình khắc, nếu không sẽ chủ về hai ba vợ. Có Liêm trinh đồng độ, không hình khắc, thêm Hóa Lộc hoặc Lộc tồn đồng độ, là có kết quả hôn nhân mĩ mãn, hoặc nhờ vợ mà được tiền tài. Có Hóa Quyền, Hóa Khoa, Văn xương, Văn khúc, Thiên tài hội chiếu, chủ về "lời qua tiếng lại", bất hòa, hoặc nhiều bệnh nhiều lo. Có Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp hội chiếu, chủ về hình khắc phân ly cô độc. 

      4. Thiên tướng ở cung Tử nữ 

      Sao Thiên tướng đến cung Tử nữ, được tam cát hóa Khoa, Quyền, Lộc, hoặc Lộc tồn, Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, và sao Thiên phủ hội chiếu, chủ về có năm con trở lên. Có Tử vi đồng độ, chủ về con chí cao và tính khí quật cường, ba con trở lên. Có Liêm trinh đồng độ thì hai con. Có Vũ khúc đồng độ cũng hai con. Khi Vũ khúc và Phá quân vậy chiếu, chủ về hình khắc, nên chậm có con thì tốt hơn. Con trưởng hoặc thai đầu bị sinh non, hỏng thai hoặc tổn thương, nên có con gái trước con trai sau, hoặc cho làm con thừa tự của gia đình khác trước, nếu không đều là vợ kế, vợ lẻ sinh con. Có Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp, Thiên hình hội chiếu, chủ về hình khắc, nếu đồng thời có Tả phụ, Hữu bật hội chiếu, chủ về hai ba thai trước có tổn thương, nên để vợ kế, vợ lẻ sinh con, nhưng thai đầu tiên của vợ kế, vợ lẻ vẫn xảy ra tình trạng bị tổn thương hoặc sinh non. 

      5. Thiên tướng ở cung Tài bạch 

      Sao Thiên tướng đến cung Tài bạch, thừa vượng hoặc nhập miếu, gặp sao Thiên phủ, có Hóa Lộc hoặc Lộc tồn hội chiếu, chủ về nguồn tiền tài dư dật, giữ gìn được. Đồng độ với sao Liêm trinh, theo thương nghiệp thì đúng với sở trường, tất nhiên có thể phát. Có Tử vi đồng độ, chủ về có tiền của bất ngờ, nhờ vậy mà đột nhiên giầu có. Đồng độ cùng Vũ khúc, chủ về nhờ kỹ năng chuyên môn, hoặc nghệ thuật mà được tài lợi. Có Vũ khúc và Phá quân vậy chiếu, chủ về tiền tài lúc được lúc mất, lúc thành lúc bại, hoặc phá gia bại sản của tổ tiên trước rồi sau mới có thành tựu. Gặp thêm Địa không, Địa kiếp, Đại hao, chủ về tài đến tài đi, hoặc giờ Dần ăn giờ Mão đong, ít có dành dụm. Có các sao Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, Thiên hình hội chiếu, chủ về vì tiền tài mà gây tranh chấp, khuynh gia phá sản, hoặc dẫn đến tai họa lao ngục. Không có cát hóa chủ về nguy hiểm đến sinh mạng.

      6. Thiên tướng ở cung Tật bệnh 

      Sao Thiên tướng đến cung Tật bệnh, có Vũ khúc và Phá quân vậy chiếu, chủ về phá tướng hoặc trên mặt có sẹo. Đồng độ cùng sao Tử vi, chủ về tức ngực khí trướng, da bị nhọt do thấp khí. Đồng độ với Liêm trinh, chủ về bị bệnh tiểu đường, bàng quang, hoặc sỏi thận. Nếu lại có Hồng loan, Hàm trì hội chiếu, chủ về bị bệnh giang mai, hoặc thủ dâm, di tinh. Cùng gặp các sao Địa không, Địa kiếp, Thiên hư, chủ về thân thể hư nhược suy tổn, con cái bị bệnh về kinh Tỳ. Có Kình dương, Đà la, Thiên hình hội chiếu, chủ về các chứng phong thấp, đau xương, hoặc phải động tới phẫu thuật, và chủ về tim loạn nhịp hoặc Tâm tạng suy ngược, chân tay vô lực cử động bất tiện. Có Hỏa tinh, Linh tinh, Thiên nguyệt hội chiếu, chủ về cảm mạo nôn mửa, hoặc chứng thấp nhọt ngoài da.

      7. Thiên tướng ở cung Thiên di 

      Sao Thiên tướng đến cung Thiên di, có tam cát hóa Khoa, Quyền, Lộc, và các sao Lộc tồn, Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt hội chiếu, chủ về có quý nhân dìu dắt, có cơ hội đặc biệt, được nhiều người ủng hộ, địa vị đã cao mà còn có thể đại phát, chủ về được người ngoại quốc xem trọng. Đồng độ cung sao Tử vi, chủ về địa vị cao, được người kinh trọng ngưỡng mộ. Đồng độ cùng Vũ khúc, chủ về bên ngoài được tiền tài bất ngờ, hoặc danh lợi đều có. Có Vũ khúc và Phá quân vây chiếu, chủ về tính tình cương nghị, ra ngoài có thành có bại, thiếu duyên với người. Có Địa không, Địa kiếp, Đại hao, Kiếp sát hội chiếu, chủ về ra ngoài bị phá hao, một đời nhiều sóng gió, trắc trở. Có các sao Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, Thiên hình hội chiếu, chủ về ra ngoài cô độc, ít được người giúp, hoặc dễ gặp tai họa, hay bị tiểu nhân hãm hại.

      8. Thiên tướng ở cung Giao hữu 

      Sao Thiên tướng đến cung Giao hữu, hội chiếu tam cát hóa Khoa Quyền Lộc, hoặc Lộc tồn, Tả phụ, Hữu bật, chủ về giao du rộng, hơn nữa còn có nhiều trợ lực, hoặc nhờ có bạn bè mà nên nhà nên cửa, và được thủ hạ trung thành. Đồng độ với Tử vi, chủ về được loại bạn đáng nể hoặc có lòng chính nghĩa. Đồng độ với Vũ khúc, chủ về quan hệ với loại người bất nghĩa mà nhiều tranh giành. Có Vũ khúc và Phá quân vây chiếu, chủ về chơi bời quan hệ với nhóm người làm ơn mắc oán, hoặc vì bạn bè mà phá tài. Có Địa không, Địa kiếp hội chiếu, chủ về bạn bè "có cũng như không", nhiều phá hao, hoặc bị chịu lỗi, bị mang tiếng, bị vạ lây thay cho bạn. Có Kình Đà Hỏa Linh và Thiên hình hội chiếu, chủ về giao du phần nhiều toàn ăn hại, nhiều tranh giành bất hòa, hoặc bị thủ hạ trộm cắp hoặc hãm hại.

      9. Thiên tướng ở cung Sự nghiệp 

      Sao Thiên tướng đến cung Sự nghiệp, thừa vượng nhập miếu, có tam cát hóa Quyền, Lộc, Khoa, và Lộc tồn, Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, chủ về là người nhân vật quan trọng của quốc gia, người nổi tiếng trong xã hội, thương gia cự phách trong giới kinh doanh, đã phú còn quý, vừa văn vừa võ. Tam phương tứ chính mà không có Sát diệu, thì đều là người mưu tính phát triển ở trên vũ đài chính trị. Đồng độ với sao Tử vi, chủ về người tiến thân trong chính giới. Đồng độ cùng sao Vũ khúc, chủ về lập công ở biên cương. Đồng độ cùng sao Liêm trinh, chủ về người tham dự việc binh, rong ruổi trên chiến trường. Có Vũ khúc và Phá quân vậy chiếu, chủ về có thành có bại, lúc được lúc mất. Có Không Kiếp hội chiếu, thì nên khởi nghiệp từ kỹ năng nghệ thuật, hoặc sáng lập công xưởng sản xuất, nếu không sẽ chủ về thất bại phá hao, đầu cơ thì khuynh gia bại sản. Có Kình Đà Hỏa Linh hội chiếu, chủ về sự nghiệp nhiều tranh chấp rắc rối, nhiều thay đổi, trong thuận lợi sẽ gặp nhiều nghịch cảnh, hơn nữa còn chủ về quan tai thị phi. Trong chính giới, hay giới quân sự, có thể đột nhiên bị bãi chức, cách chức, ở trong thương giới đột nhiên bị tình huống phá sản, hay bị kiện tụng điên đảo.

      10. Thiên tướng ở cung Điền trạch 

      Sao Thiên tướng đến cung Điền trạch, có tam cát hóa Khoa, Quyền, Lộc hội chiếu, hoặc có Lộc tồn đồng độ, chủ về sản nghiệp to lớn. Đồng độ cùng sao Tử vi, chủ về trung niên tăng thêm ruộng đất, nhà cửa. Có Địa không, Địa kiếp, Đại hao hội chiếu, chủ về gia tài bị phá hao. Có Vũ khúc và Phá quân vây chiếu, chủ về gia sản của Tổ tiên dần dần bị lụn bại. Có sao Hóa Kị chủ về gia trạch không yên ổn, nhiều bệnh tật, nhiều tai họa, nhiều "lời qua tiếng lại". Có Kình Đà Hỏa Linh hội chiếu, chủ về gia nghiệp phá tán (gia rồi đến nghiệp, nên nói gia nghiệp), hoặc vì sản nghiệp gây ra tai họa, tranh chấp, thị phi, kiện tụng.

      11. Thiên tướng ở cung Phúc đức 

      Sao Thiên tướng đến cung Phúc đức, luôn có sao Thiên phủ hội chiếu, và gặp Hóa Lộc hoặc Lộc tồn, Tả phụ, Hữu bật ở tam phương tứ chính, chủ về hưởng thụ hạnh phúc, phú quý trường thọ. Gặp sao Hóa Kị chủ về nhiều tư lự, tinh thần bất an. Có Vũ khúc và Phá quân vây chiếu, chủ về bôn ba, tinh thần mệt mỏi. Có Không Kiếp đồng độ, chủ về nhiều ảo tưởng mà ít thực hiện, phúc bạc. Có tứ Sát hội chiếu thì vô phúc, không ổn định, nhiều việc không thể đạt tới mục đích, nhiều rắc rối.

     12. Thiên tướng ở cung Phụ mẫu  

      Sao Thiên tướng đến cung Phụ mẫu, thừa vượng hoặc nhập miếu, chủ về không có hình khắc. Có Vũ khúc đồng độ chủ về có hình khắc. Có sao Hóa Kị thì nhiều bệnh tật, nhiều tai họa. Có Liêm trinh đồng độ cũng chủ về có hình khắc. Đồng độ với tứ Sát hoặc tứ Sát hội chiếu, chủ về thủa nhỏ bị hình khắc. Có Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Giải thần, Thiên đức, Thiên vu thì không có hình khắc.

4 nhận xét:

  1. ----------------

    0-1: Sao Thiên Tướng không có bản chất riêng, nên nói "có thể thiện có thể ác", tính thiện hay ác phải coi người cầm Ấn là thiện hay là ác mà định. Thiên Tướng đồng độ với Chính diệu nào, hoặc Chính diệu nào vậy chiếu, sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với Thiên Tướng.

    0-2: Tính chất của tinh hệ giáp cung lại quan trong hơn so với tinh hệ của tam phương tứ chính, đó là đặc điểm của Thiên Tướng.

    0-3: Sao Thiên Tướng được Hóa Lộc và Thiên Lương giáp cung gọi là cách "Tài ấm giáp ấn", Sao Lộc là tiền tài, sao Thiên Lương hóa khí là "Ấm" có tính chất "che trở", cho nên gọi là cách "Tài ấm giáp ấn". Đây là cách Cát rất nổi danh của Thiên Tướng. Bởi vì Thiên Lương luôn ở trước Thiên Tướng một cung, còn Cự Môn sẽ ở sau Thiên Tướng một cung. Cự Môn Hóa Lộc là chính tông nhất, khi đó Hóa Lộc ở sau Thiên Tướng và Thiên Lương ở trước Thiên Tướng.

    Về tính chất cụ thể, do chính diệu Hóa Lộc khác nhau, nên tình huống cũng có khác biệt. Ví như:

    - Thiên Cơ Hóa Lộc và Thiên Lương Hóa Quyền giáp Thiên Tướng, cũng là đại cát. Trường hợp này không chỉ là "tài giáp ấn", mà còn là "Lộc Quyền giáp".

    - Thái Dương Hóa Lộc cung Thiên Lương giáp cung, cũng tốt.

    - Kế đến nữa là, Thiên Đồng Hóa Lộc và Thiên Lương giáp cung, tài khí yếu hơn, trợ lực cũng có phần kém hơn.

    Cách "Tài ấm giáp ấn" phải xem xuất hiện ở cung viên nào trong12 cung mà định. Ở cung Mệnh, chủ về "phú quý vinh hoa", song cần phải có thêm cát diệu khác tương hội mới đúng cách, nếu chỉ có "tài ấm giáp" thì chủ về dư dật. Cách "Tài âm giáp ân" ở cung Tài bạch, chủ về tiền tài sung túc, được người giúp đỡ. Cách "Tài ấm giáp ấn" ở cung Sự nghiệp, chủ về nguồn tiền tài không gián đoạn. Cách này ở cung Thiên di, lợi ra ngoài mưu sinh. Cách này ở cung Phúc đức, chủ về "hưởng thụ vui vẻ", nhất là không phải lo nghĩ về kinh tế mà được cảm giác an toàn. Cách này ở cung Điền trạch, chủ về sản nghiệp to lớn, hoặc có thể được thừa kế tài sản lớn của tổ tiên.

    Lộc Tồn và Thiên Lương giáp cung, tuy cũng có tính chất "tài ấm giáp", song do vì sẽ có Kình Dương đồng độ, mà Kình Dương hóa khí là HÌNH (hình phạt), cho nên, bất lợi đối với Thiên Tướng, vì vậy đây là phá cách.

    0-4: Sao Thiên Tướng bị Hóa Kị và Kình Dương giáp cung, gọi là cách "Hình kị giáp ấn". Hóa Kị đương nhiên là Kị, còn Kình dương thì mang "hình khí", hóa khí làm "hình", có tính chất "hình thương khắc hại", tai ách, phá tán thất bại.

    Cùng một dạng với cách "Hình kị giáp ấn", thì chính cách là Cự Môn Hóa Kị và Kình dương giáp cung với sao Thiên Tướng. Còn các sao Hóa Kị khác như Thiên Cơ Hóa Kị, Thái Dương Hóa Kị, Thiên Đồng Hóa Kị, cũng đều nhập cách "Hình kị giáp ấn". Sao Văn Xương Hóa Kị, và Văn Khúc Hóa Kị cũng có thể phối hợp với cách "Hình kị giáp ấn".

    Sao Hóa Kị khác nhau, cũng vì Chính diệu khác nhau, cho nên tính chất cũng có chỗ khác biệt.


    Trả lờiXóa
  2. -----------

    Hóa Kị và Kình Dương giáp cung Thiên Tướng, thì Lộc tồn sẽ đồng độ với Thiên Tướng, nhưng giữa cái "lợi" và cái "hại", thì sự "hại" sẽ lớn hơn. Cho nên, Thiên Tướng gặp Lộc tồn cũng không thể luận là Cát.

    Sao Thiên Lương cũng có thể hóa khí làm HÌNH, có sát khí của sao "Hình", cho nên Hóa Kị và Thiên Lương giáp Thiên Tướng, cũng được coi là nhập cách, do sát khí của Thiên Lương không thể bằng Kình dương, nên hung họa có nhẹ hơn.

    Khi Hóa Kị và Kình Dương, đồng cung với Thiên Tướng, tuy không phải là giáp cung, nhưng thực ra sát khí tại cung rất lớn, cũng có thể luận giống như cách "Hình kị giáp ấn". Thí dụ, Liêm Trinh Thiên tướng đồng độ ở Ngọ, người sinh năm Bính thì Kình dương ở Ngọ sẽ đồng độ với Liêm Trinh Hóa Kị, và đồng độ với Thiên Tướng. Đây chính là ví dụ điển hình của tình huống này.


    Trả lờiXóa
  3. ---------

    Cách "Hình kị giáp ấn"

    - Ở cung Mệnh viên, chủ về bản thân bị hình khắc tổn thương, cơ thể hư nhược nhiều bệnh, sự nghiệp nhiều trắc trở, kinh tế sinh hoạt thường rơi vào tình trạng túng thiếu, hoặc không có lợi về các mối quan hệ với những người ở gần, chủ về nửa đời cô độc.

    - Ở cung Tài Bạch, chủ về "tài vận" mất định hướng, nguồn tiền tài thiếu hụt.

    - Ở cung Thiên Di, chủ về ra ngoài xảy ra tai họa.

    - Ở cung Sự nghiệp, chủ về gặp nhiều áp lực, hoặc nghề nghiệp không ổn định, kế hoạch công việc đột nhiên bị hoàn cảnh khách quan chi phối thay đổi.

    - Ở cung Lục thân, chủ về người thân xâm phạm, chiếm đoạt, cũng chủ về hình khắc người thân.

    - Ở cung Phụ mẫu, chủ về mất đi sự che chở.

    - Ở cung Điền trạch, chủ về gia trạch không yên, nếu mua nhà cửa đất đai, thì sẽ xảy ra họa tai, hoặc đầu tư bất động sản sẽ bị phá tài.

    - Ở cung Phúc đức, chủ về nảy sinh nhiều lo nghĩ, sinh hoạt vật chất thiếu hụt mà ảnh hưởng sang sinh hoạt tinh thần.

    Gặp cách "Hình kị giáp ấn", nếu lại thêm hội chiếu với các sao Hỏa tinh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp, Thiên hình, Đại hao, thường chủ về "tai họa lao ngục".


    Trả lờiXóa
  4. ----------

    5.1: Thiên tướng thấy những Cát tinh ở cung Tài Bạch, đều lấy trường hợp có gặp sao Lộc làm cơ sở cho Cát và Lợi. Tổ hợp như sauL

    - Thiên Tướng thấy Tả phụ, Hữu bật, chủ về nguồn tiền tài "ổn định", nhưng không chủ về dồi dào.
    - Thiên Tướng thấy Thiên khôi, Thiên việt, chủ về nhiều "cơ hội" kiếm tiền, nhưng cũng chỉ chủ về sung túc.
    - Thiên Tướng thấy Văn xương, Văn khúc, chủ về vận dụng văn tài để mưu sinh, hoặc nhờ danh tiếng mà có tiền.

    5.2: Thiên Tướng độc tọa ở Tị hoặc Hợi, có Vũ khúc và Phá quân vây chiếu, đây là cách tệ hại nhất của Thiên tướng trấn thủ cung Tài Bạch, tính chất cơ bản sẽ là "lúc được lúc mất", nguồn tiền tài phần nhiều lên xuống trồi sụt bất định. Có thiên mã đồng độ hoặc vậy chiếu thì càng ứng như vậy. Nếu thấy thêm Không Kiếp và Đại hao, chủ về "giờ Dần ăn giờ Mão đong", tức tiền chưa tới đã tiêu hết, ăn trước trả sau, hoặc phải vay nợ để độ nhật. Thấy Sát, thì vì tiền tài mà tranh chấp, nếu Sát Hình Kị mà nặng, thì vì tiền tài mà chết hoặc phạm pháp

    5.3: Khi Thiên Tướng đồng độ cùng Tử vi ở cung Tài bạch, trở thành tinh hệ mang tính "đột phá", không thấy sao Lộc cũng mang tính "đột phá", còn thấy sao Lộc thì mức độ "đột phá" lớn hơn. Nhưng, lại thấy có thêm các sát Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la vây chiếu, chủ về sau khi "đột phá" phát lên sẽ dễ bị phá bại, trở lại như ban đầu, bởi vì tính cách thủ đoạn quá kịch liệt, lại thêm "bất cận nhân tình"


    Trả lờiXóa