Hiển thị các bài đăng có nhãn Thái tuế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thái tuế. Hiển thị tất cả bài đăng

Vị thần nào "cai quản năm 2013"?

      Quý T Thái tuế đại tướng quân Tư Đơn
     
      Theo tín ngưỡng dân gian, mỗi năm có một vị thần minh cai quản, chăm sóc mọi sự việc của trần gian. Vị thần cai trị năm đó được gọi là Thái Tuế, ghi nhận hết những việc tốt xấu của mọi người.
 
       Năm âm lịch hình thành do sự phối hợp của 10 Thiên Can và 12 Địa Chi, tạo nên chu kỳ 60 năm, và do đó cũng có 60 vị Thiên Tướng thay phiên nắm giữ vị trí Thái Tuế. Vì đại đa số họ xuất thân là võ tướng nên cả 60 vị đều được gọi là Đại Tướng Quân. Phong cách và vũ khí của mỗi vị phản ánh vận trình của năm. Chẳng hạn nếu Thái Tuế cầm bút thì năm đó có những biến cố về chính trị. Thái Tuế cầm gươm hay giáo có nghĩa là cần làm việc cật lực và vượt trội trong năm đó.


       Hạnh phúc, sức khỏe và may mắn của mỗi người được coi là thuộc thẩm quyền của vị Thái Tuế cai quản trong năm. Thái Tuế sẽ ghi nhận những việc làm tốt và việc làm xấu của mọi người. Niềm tin này có ý nghĩa như điều nhắc nhở con người tránh mắc sai lầm, chú ý chăm sóc sức khỏe và chuyên tâm làm việc thiện để không phải gánh chịu các nỗi bất hạnh.
 
       Ngoài vai trò ban phước lành và là quan giám hộ cho con người, mỗi Thái Tuế được dùng để đánh dấu một năm âm lịch. Trong năm 2013, Từ Thiện Đại Tướng Quân sẽ nhận nhiệm vụ thay thế Bành Thế Đại Tướng Quân, người cai quản năm 2012.

 
       Từ Thiện Đại Tướng Quân sinh tại tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, dưới triều Hán (206 TCN- 220). Ông luyện võ nghệ từ nhỏ và nổi tiếng là người dũng cảm, hào phóng, yêu nước. Khi Ban Siêu, người đã mở rộng bờ cõi Trung Quốc tới dãy núi Pamir, nhận lệnh dẫn quân lên biên ải phía Tây, Từ Thiện đã ngay lập tức tình nguyện tham gia đội quân, phò trợ vị tướng này. Cuối cùng, trận chiến thắng lợi, quân của Ban Siêu đánh bại kẻ thù và tiêu diệt hơn 1.000 quân Hung Nô.

 
       Triều đình sau đó phong cho Từ Thiện vị trí chỉ huy quân đội. Cùng với Ban Siêu, ông đã đánh bại nhiều kẻ thù và thu phục thêm đất đai cho nhà Hán. Lòng quả cảm, đức quên mình và kinh nghiệm chiến đấu đã mang lại cho ông vị trí một trong 60 vị Thái Tuế.

 
       Thái Tuế và Mộc tinh


       Một trường phái khác, mang tính khoa học hơn, lại gắn Thái Tuế với chuyển động của sao Mộc và ảnh hưởng của nó tới trường khí của mỗi con giáp. Từ xa xưa, sao Mộc đã được các nhà chiêm tinh nghiên cứu và gọi là Tuế tinh. Do chu kỳ của Tuế tinh là gần 12 năm (11,86 năm) nên người ta đã lấy tên 12 con giáp đặt cho 12 cung của Tuế tinh. Tuế tinh rơi vào cung nào thì năm của con giáp đó bị coi là xấu do chịu ảnh hưởng mạnh của trường khí.
 
       Do chu kỳ của Tuế tinh không đúng 12 năm nên việc tính toán Địa Chi dựa trên chuyển động của Mộc tinh tỏ ra không thuận tiện. Vì vậy người ta đã nghĩ ra một ngôi sao tưởng tượng, chuyển động theo đúng chu kỳ 12 năm, ở phương vị xung chiếu với Tuế thực, và gọi nó là Thái Tuế. Thời gian trôi đi, sao Thái Tuế biến từ một ngôi sao tưởng tượng thành một ngôi sao thực, một vị thần có quyền tối thượng, nắm trong tay Họa Phúc, Cát Hung, Thọ Yểu của nhân gian. Năm nào có Thái Tuế xuất hiện trong tính toán, hướng đối xứng với nó có Tuế thực, là hướng bị ảnh hưởng.


==============

      HẠNH PHÚC GIA TĂNG THEO TUỔI TÁC
       

      Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy sự thỏa mãn với cuộc sống gia tăng theo tuổi tác.

      Đó là nghiên cứu do nhà khoa học Angelina R. Sutin và các đồng nghiệp thực hiện tại Viện Lão hóa quốc gia NIA (Mỹ).


      Nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu của hai cuộc nghiên cứu lâu dài có quy mô lớn của Viện Sức khỏe quốc gia (NIH) và Cơ quan kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC).


      Đối tượng là hàng ngàn người được nghiên cứu trong hơn 30 năm, với khoảng 10.000 bản báo cáo về tình trạng hạnh phúc, sức khỏe và các yếu tố khác.
 
      Khi xem xét theo đoàn hệ sinh (birth cohort) - những người được sinh ra cùng một năm hoặc cùng một thời kỳ, họ nhận thấy sự thỏa mãn cuộc sống gia tăng theo thời gian sống. 

      Nhận xét này vẫn chính xác khi xem xét đến các yếu tố khác như sức khỏe, uống thuốc để điều trị bệnh, giới tính, dân tộc và trình độ học vấn.

 http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130209/hanh-phuc-gia-tang-theo-tuoi-tac.aspx

==================
 

 http://cdn9.nguyenbathanh.net/files/2013/02/ngoa-ho-tang-long-200213.jpg 
Ngọa Hổ tàng Long
 
      Quý Tị là con Rắn ra khỏi bãi cỏ lộ rõ hình dạng và xu hướng vận động. Trường lưu Thủy cuồn cuộn bất tuyệt, tất quy về phương Đông Nam, xuôi dòng tự quy về Thìn Tị. Quý Tị rất c tài về ăn nói.

      Nếu Nhâm Thìn tọa cung Tài bạch, một đời không được phú và quý, nhưng cũng không ngheo khổ. Tuy trong tay rất khó cđược số tiền lớn, nhưng không bao giờ thiếu tiền dùng.

      Thủy này ưa Kim sinh dưỡng, như Canh Tuất, Tân Hợi Thoa xuyến Kim; Canh Thìn, Tân Tị Bạch lạp Kim, cũng ưa Nhâm Thân, Quý Dậu Kiếm phong Kim.

      Ưa Quý Sửu Tang đồ Mộc làm núi, ưa Quý Mùi Dương liễu Mộc làm vườn, gọi là "Thủy nhiễu hoa đề cách", chủ về vinh hoa phú quý.

      Nhâm Dần Quý Mão Kim bạc Kim, cũng luận là cát lợi. duy gặp Hải trung Kim, Sa trung Kim thì vô ích.

      Rất kị Thổ làm tắc nghẽn khô cạn, nhưng Thổ lại có công đắp đê, chỉ lấy Canh Tân Bính Đinh là tốt, gặp Mậu Kỷ là không tốt.

      Gặp Hỏa là tương hình, mà có tượng "ký tế", ưa gặp Mậu Tý Mậu Ngọ, là Thiên can hợp hóa. Ưa nhất Giáp Thìn Phúc đăng Hỏa.

      Gặp Mậu Thìn Đại lâm Mộc, mệnh chủ cát lợi.

      Quý Lộc tại Tý, Quý quý tại Tị, Tị Mã tại Hợi mà lại gặp Hợi là Mã phạm Hình thì không nên kinh doanh, có thể bỏ mạng nơi đất khách quê người. Nếu gặp Thân Dần là phạm hình, nữ mệnh chủ xảy thai, sinh non, hoặc tình trường liên lụy.

              



 

Khái luận về Thái tuế - Phan Tử Ngư

      Căn cứ ghi chép trong sách cổ "Thái tuế có 3 loại, một là Thái tuế năm, vận hành sang trái 28 vì tinh tú, 12 năm một chu thiên, bắt đầu thấy ở phía Nam ngoài biển; tháng 1 là Thái tuế tháng, tháng 2 khởi từ ngày Mão,  tháng 3 khởi từ ngày Tý,  tháng 4 khởi từ ngày Dậu,  tháng 5 khởi từ ngày Ngọ, tháng 6 lại quay về Mão".

      Thái tuế trong sách Tử vi Đẩu Số là Thái tuế năm, cũng gọi là Thái tuế âm, Tinh long, Thiên nhất.

      Thái tuế mỗi năm chuyển động một cung, ví dụ như năm Dân quốc thứ 72 là năm Quý Hợi, Thái tuế tại Hợi, sang năm sau Thái tuế tại Tý, sang năm sau nữa Thái tuế tại Sửu.

      Ba công dụng của Thái tuế là:


      1)- Căn cứ vào tính toán chuyển động của mặt Trăng, tuy năm nay Thái tuế của mỗi người đều ở Hợi, nhưng lưu nguyệt của mỗi người lại không giống nhau. Ví dụ như Phan Tử Ngư sinh vào tháng 2, lấy cung Hợi làm khởi điểm, ngược chiều kim đồng hồ lấy Hợi địa làm tháng 1, Tuất địa làm tháng 2 (sinh tháng 3 lại theo đó suy tiếp 1 cung, sinh tháng 4 suy tiếp tương tự) tại cung Tuất làm khởi điểm, lại theo chiều kim đồng hồ đoán ngược giờ sinh. Phan Tử Ngư sinh vào giờ Dần, lấy Tuất địa làm giờ Tý, Hợi địa làm giờ Sửu, Tý địa làm giờ Dần. Như vậy Phan Tử Ngư năm nay Đẩu quân tại Tý, cũng tức là lất Tý địa làm chính nguyệt, Sửu địa làm tháng 2, Dần địa làm tháng 3 ... Sự biến hóa cát hung của vận khí mỗi tháng đều xem dựa trên vị trí tọa của các Sao.
      Vận khí mỗi ngày như thế nào, thì lấy Lưu nguyệt làm ngày mồng 1, mỗi ngày vận hành một cung
      Lưu thời lấy Đẩu Nhật làm giờ Tý, tính toán như lưu Nhật.


      2)- Thái tuế của mỗi ngươi đều ở Hợi địa, nhưng cung nhập Hợi địa mỗi người không giống nhau, ví như có người Hợi địa ở cung Phụ mẫu, có người ở cung Phu thê, có người ở cung Tử nữ, lại có người cung Tài bạch nhập Hợi địa ... Như vậy, Thái tuế và cung Hợi có quan hệ mật thiết, ví như cung Phu thê tọa Hợi địa thì luận về tình cảm vợ chông trong năm Quý Hợi là trọng yếu. Nếu sao ở cung Phu thê là cát tinh thì vợ chồng hòa thuận, nếu là hung tinh thì vợ chồng bất hòa, hoặc gặp tai nạn, thậm chí là xung khắc nhau. Nếu nha Thái tuế năm nay ở cung Tài bạch, gặp cát tinh tất phát tài, gặp hung tinh e khó tránh họa phá tài.

      3)- Xem vận khí mỗi năm, lấy Tiểu hạn làm chủ, Thái tuế làm phụ trợ. Ví dụ Thái tuế năm nay ở Hợi địa, thì lấy Hợi địa làm cung Mệnh, cung Phu thê ở Dậu, sao tọa Dậu địa là cát tinh thì vợ chồng hòa hợp, sao tọa là hung tinh thì vợ chồng bất hòa.
      Cung Tài bạch ở Mùi địa, sao tọa là cát tinh thì năm Quý Hợi tài vận tốt đẹp, là hung tinh thì e khó tránh họa phá tài.
      Tuy nhiên, nên chú ý phần phê mệnh, lại tham khảo các phương tiện Đại hạn, Tiểu hạn, Thái tuế, cùng Tứ hóa (bao gồm tứ Hóa năm sinh. Tứ Hóa đại hạn. Tứ hóa tiểu hạn. Tứ hóa Thái tuế...) tổng hợp để nghiên cứu.
      Thái tuế rất kị gặp năm mệnh, nếu sao ở cung Mệnh là cát tinh thì không đáng lo ngại, nếu là hung tinh thì năm đoa khó tránh họa tai nạn.
      Thái tuế kị gặp Thiên thương - Thiên sứ (như Thiên thương tại Tị, Thiên sứ tại Mùi, Thái tuế tại Ngọ), kị hành Địa không, Địa kiếp, Kình dương, Đà la, cũng kị Kình Đà xung phá Thái tuế, thường gặp hung hạn.